Skip to content

Những thực phẩn làm “hạn chế” chiều cao của trẻ


Những thực phẩm chứa nhiều vitamin D và canxi luôn là sự lựa chọn hàng đầu trong việc tăng trưởng chiều cao của trẻ. Bạn cần hạn chế tối đa một số loại thực phẩm sau vì chúng có thể “phá hỏng” quá trình tăng trưởng chiều cao của con mình.

Các loại đồ uống có ga

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 60% các trường hợp thiếu can-xi ở trẻ đều xuất phát từ thói quen uống các loại đồ uống có ga ở trẻ.

Các loại đồ uống có ga thường chứa nhiều axit Phosphoric. Quá nhiều hàm lượng axit này có thể dẫn tới việc làm tăng đào thải can-xi qua nước tiểu, trẻ sẽ chậm phát triển cả về chiều cao và thể lực.

Đồ ăn chứa nhiều đường

Ăn quá nhiều đồ ăn vặt chứa nhiều đường như: bánh kẹo, đồ uống ngọt… không chỉ kích thích quá trình chuyển hóa đường thành mỡ gây bệnh béo phì, mà còn làm giảm khả năng hấp thụ can-xi và các vitamin, khoáng chất khác của cơ thể trẻ.

Nếu lượng đường chiếm từ 16-18% trong tổng hàm lượng thức ăn của trẻ thì trẻ sẽ thường xuyên phải đối mặt với các vấn đề về đường tiêu hóa.

Đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ

Các thực phẩm đóng hộp hoặc được chiên qua nhiều dầu mỡ thường mất đi khá nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình chế biến, trong đó có cả vitamin D và các chất xơ.

Các đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ lại cung cấp cho trẻ quá nhiều calo, dễ dẫn đến bệnh béo phì và hạn chế sự phát triển của các tế bào thần kinh.

Nguồn: Dantri

Trẻ hay quấy khóc sẽ chậm phát triển chiều cao

Hay quấy khóc vào lúc nửa đêm làm giảm cường độ tiết hormone tăng trưởng của cơ thể. Đây là một trong những nguyên nhân khiến trẻ chậm phát triển chiều cao.

Các nhà khoa học cho rằng trẻ em ngủ đủ giấc sẽ có lợi cho sự phát triển trí tuệ. Đây là một quan điểm hoàn toàn đúng và khoa học. Tác dụng chủ yếu của hormone tăng trưởng chính là thúc đẩy quá trình tổng hợp protein.

Khi cơ thể được cung cấp đầy đủ hàm lượng protein, quá trình phát triển xương, sụn khớp và sụn đầu xương sẽ được hỗ trợ. Cơ thể thiếu làm lượng hormone tăng trưởng sẽ dẫn đến sự ức chế thần kinh và khiến trẻ phát triển không bình thường.

Thông thường, hormone tăng trưởng được tiết ra nhiều nhất vào ban đêm khi trẻ ngủ. Chính vì vậy, nếu trong một đêm, trẻ thức dậy nhiều và quấy khóc sẽ khiến cơ thể giảm tiết hormone tăng trưởng gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển chiều cao cũng như trí tuệ của trẻ.

Các chuyên gia cho rằng, ở trẻ sơ sinh, thời gian ngủ chính là một đồng hồ sinh lý, trẻ chưa hề có ý thức nhiều về thời gian ngủ của mình. Lý giải cho điều này, các chuyên gia đã giải thích rằng, do trung khu thần kinh ở trẻ chưa được phát triển đầy đủ và hoàn thiện nên các phản xạ có điều kiện chưa được thành lập. Tuy nhiên, khoảng 15 ngày tiếp theo, sự tác động của cường độ ánh sáng, âm thanh bắt đầu ảnh hưởng đến não của trẻ và phản xạ có điều kiện được thành lập.

Trẻ sẽ bị giật mình khi có âm thanh lớn, chói mắt khi cường độ ánh sáng quá mạnh hoặc quấy khóc, tỉnh giấc nhiều về đêm nếu ngủ quá nhiều vào ban ngày.

Ngoài ra, có một vài các yếu tố khác cũng gây ảnh hưởng tới giấc ngủ của trẻ như nhiệt độ môi trường quá ấm hoặc quá lạnh. Không gian trong phòng quá bí cũng là một trong những nguyên nhân khiến trẻ ngủ không ngon giấc và hay quấy khóc về đêm.

Trẻ có thể khóc khi bị đói, bởi vậy, các bà mẹ nên chú ý để con không bị đói và tỉnh giấc lúc nửa đêm. Tã của trẻ ướt và không được thay cũng có thể khiến trẻ cảm thấy khó chịu và quấy khóc.

Bên cạnh đó, mắc bệnh còi xương hay viêm da dị ứng với tã quấn cũng có thể là nguyên nhân khiến trẻ khóc về đêm.

Để hạn chế tình trạng này, các bà mẹ nên chú ý để điều chỉnh “đồng hồ sinh học” của con mình. Không nên cho con ngủ quá nhiều vào ban ngày. Các chuyên gia cũng khuyên người lớn không nên nói to, bật âm thanh quá lớn khiến trẻ giật mình.

Điều chỉnh nhiệt độ trong phòng cho phù hợp và chú ý để trẻ không bị đói là một trong những cách giúp con yêu không tỉnh giấc lúc nửa đêm.

Việc kiểm tra xem tã quấn có khiến trẻ cảm thấy khó chịu hay bị dị ứng không là điều quan trong trong việc bảo vệ sức khỏe cũng như chất lượng giấc ngủ cho con của bạn.

Theo Dantri

Phát triển chiều cao cho trẻ: Phải bắt đầu từ việc… rửa tay

Nhiều người tìm cách thức tăng chiều cao cho con bằng các loại sữa, hạt cốm can-xi hay đồ ăn giúp tăng chiều cao. Tuy nhiên, điều không phải ai cũng biết là chiều cao của trẻ còn bị ảnh hưởng bởi một yếu tố hết sức bình thường.
Đó là các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính như tiêu chảy, thương hàn, nhiễm trùng đường ruột mà để phòng bệnh lại hết sức đơn giản: Rửa tay!

Phát biểu tại hội thảo Dịch bệnh và nguy cơ ảnh hưởng chiều cao, chỉ số thông minh (IQ) ở trẻ do Viện Dinh dưỡng và Chi hội Dinh dưỡng lâm sàng tổ chức chiều 26-7, PGS-TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia cho biết: Chiều cao của trẻ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như dinh dưỡng giai đoạn bào thai, quá trình lớn lên và giai đoạn dậy thì. Bên cạnh đó là môi trường sống, chất lượng giấc ngủ, cùng các hoạt động thể chất. Yếu tố bệnh tật đóng vai trò quan trọng thứ 2, ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của trẻ.
Cần chú ý đến việc vệ sinh đôi tay sạch sẽ để ngăn ngừa dịch bệnh tấn công trẻ.

Theo bác sĩ Hà Vinh, Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM, các bệnh nhiễm trùng đường ruột đã gây ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ như kết quả khảo sát trên 119 trẻ tại Bra-xin trong thời gian 10 năm. Trong 2 năm đầu đời, nếu trung bình trẻ bị 7 đợt tiêu chảy thì đến khi 7 tuổi thấp hơn 3,6cm so với bạn cùng lứa tuổi không mắc bệnh. Trẻ bị nhiễm giun thì khi lên 7 tuổi cũng thấp hơn các bạn khác 4,6cm. Còn với những trẻ vừa bị tiêu chảy vừa có giun sán trong người thì đối mặt với nguy cơ giảm tới 8,2cm chiều cao so với trẻ không mắc bệnh.

Theo chương trình cung cấp thực phẩm bổ sung ở Malawi, Châu Phi: Trong số 209 trẻ cùng được tiếp nhận dinh dưỡng bổ sung như nhau thì các trẻ bị tiêu chảy nhiều chỉ sau 24 tháng sự tăng trường chiều cao, cân nặng càng suy giảm. Trong khi những trẻ bị sốt hoặc ho mà không tiêu chảy thì chỉ giảm về cân nặng.

Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy, những dịch bệnh thông thường này tưởng chừng rất đơn giản vì đứa trẻ nào cũng mắc phải ít nhất một lần, nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chiều cao của trẻ. Đây là điều quan trọng cần lưu ý, trái với quan niệm thông thường rằng những gì mất đi trong lúc trẻ bị tiêu chảy có thể phục hồi hoàn toàn sau khi hết bệnh. Thực tế, có những tổn thất không thể phục hồi được hoàn toàn như trước. Nguyên nhân do khi bị nhiễm trùng đường ruột (tiêu chảy hoặc không), trẻ có nguy cơ mất protein qua đường ruột, giảm hấp thu dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển-ông Vinh cho biết.

Bà Lâm đưa ra khuyến cáo, để phát triển chiều cao tối đa bên cạnh vấn đề dinh dưỡng, cha mẹ cần có biện pháp phòng tránh dịch bệnh cho trẻ, ngăn không để trẻ nhiễm bệnh nhất là trong 10 năm đầu đời. Cần đặc biệt phòng tránh những bệnh nhiễm trùng lây truyền qua bàn tay mẹ, người chăm sóc và trẻ bằng cách rửa tay sạch sẽ.

Giám sát của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) tại Việt Nam cho thấy, có đến 88% không rửa tay với xà phòng trước khi ăn; 84% không rửa tay sau khi đi đại tiện. Trong khi đó, 80% các bệnh hiện có tỉ lệ mắc cao nhất như tiêu chảy, tay chân miệng, thương hàn đều có liên quan đến hành vi không rửa tay bằng xà phòng. Bởi vậy, để phòng ngừa dịch bệnh này phát triển và xâm nhập vào trẻ cần rửa tay bằng xà phòng, sẽ giúp ngăn được 30%-40% nguy cơ mắc bệnh lây qua tay.

Theo PLXH

Bạn đã có đủ vitamin D?

Thiếu vitamin D bé sẽ chậm lớn, còi xương, khó phát triển chiều cao mong đợi. Dó đó bổ sung vitamin D là điều cần thiết cho mỗi người ngay từ khi còn trong bụng mẹ.

Tại sao chúng ta cần phải có đủ vitamin D?

Cơ thể phải có vitamin D để hấp thụ… và kích thích xương phát triển. Quá ít vitamin D sẽ khiến xương giòn, còi xương ở trẻ em và biến dạng xương ở người lớn. Ngoài ra vitamin D cũng cần cho những cơ quan khác của cơ thể.

Lượng vitamin D nếu không được cung cấp đầy đủ có liên quan mật thiết với các bệnh như ung thư vú, ung thư ruột kết, ung thư tuyến tiền liệt, các bệnh tim mạch, trầm cảm, cơ thể gày gò thiếu cân và các chứng bệnh khác.

Ngoài ra, vitamin D cũng có tác dụng tốt trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh về thần kinh, tiểu đường, huyết áp cao, vết thương lâu ngày, cảm cúm, loãng xương…

Tác dụng tốt của vitamin D còn thể hiện ở việc nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khung xương vững chắc, tăng cường hệ miễn dịch, hệ thần kinh, các cơ và vòng đời của các tế bào người.

Một điều đặc biệt là vitamin D vô cùng quan trọng đối với làn da con người sau khi được tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên.

Do đó, những người được sống ở những vùng đất tràn đầy ánh sáng bao giờ cũng có đủ vitamin D cho cơ thể.

Làm sao để biết cơ thể thiếu vitamin D?

Nếu muốn biết cơ thể bạn có đủ vitamin D hay không, bạn cần làm xét nghiệm sinh huyết 25-OHD (25-hydroxyvitamin D). Chỉ số 25-OHD ít hơn 15ng/mL hay 37.5 nmol/L cho thấy bạn đang thiếu vitamin D.

Nghiên cứu năm 2002 cho thấy 42% phụ nữ Mỹ gốc Phi trong độ tuổi nuôi con có chỉ số dưới 15ng/mL.

Viện Dịch tễ Quốc gia Mỹ cũng nhấn mạnh rằng chỉ số 25- OHD từ 30ng/mL trở lên là tốt nhất và nếu có thể làm cho nó ngày càng tăng từ 40 ng/mL – 70 ng/mL được đánh giá là “chỉ số đẹp”.

Bao nhiêu là đủ?

Các nhà khoa học, dinh dưỡng học khuyên mọi người nên bổ sung khoảng 200 đơn vị/ ngày cho người lứa tuổi dưới 50, 400 đơn vị/ngày cho người từ 51-70 tuổi và 600 đơn vị cho người trên 70 tuổi.

Vitamin D cũng có nhiều loại, loại tốt nhất là vitamin D3 có tự nhiên từ việc sưởi nắng. Vitamin D2 cũng là một dạng và tốt không kém vitamin D3 nhưng không được tự nhiên.

Nhận đủ vitamin D bằng cách nào?

30 phút tắm nắng hoặc để cơ thể từ mặt, chân, lưng, tay được tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên vào sáng sớm ít nhất 2 lần/tuần có thể mang lại nguồn vitamin D dồi dào.

Nếu ra ngoài nắng từ 9 giờ sáng trở đi cần bôi kem chống nắng để chống các tia tử ngoại có hại cho da.
Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy phụ nữ thiếu vitamin D rất có khả năng mắc ung thư vú và dễ “ra đi” hơn so với những người được cung cấp đủ.

Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ cũng đã từng công bố kết quả nghiên cứu của họ ở những phụ nữ mới sinh con tại miền Bắc nước Mỹ cho thấy 54% phụ nữ da đen và 42% phụ nữ da trắng không tự cung cấp đủ vitamin D cho cơ thể mình mặc dù đã được khuyến cáo.

Bạn cũng có thể lấy vitamin D từ nguồn thực phẩm ăn uống hàng ngày. Các loại cá hồi, cá thu, nấm tự nhiên được coi là “siêu thực phẩm chứa vitamin D”, ngoài ra còn có dầu cá, cá ngừ (nhưng không nên lạm dụng vì loại cá này tuy giàu vitamin D nhưng lại chứa thủy ngân), cá mòi ngâm dầu, sữa tươi, sữa chua ít béo, thịt bò, bê, gan, lòng đỏ trứng, bơ, ngũ cốc…

Vitamin D dạng viên giống như thuốc cũng có nhưng nếu có sử dụng nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Tương tác với thuốc khác

Những loại thuốc chứa steroid như thuốc kháng viêm có thể chặn sự chuyển hóa của vitamin D. Vì vậy, nếu đang dùng thuốc có chứa steroid mà muốn dùng thêm vitamin D nên có sự hướng dẫn của bác sĩ.

Các loại thuốc giảm cân điều trị béo phì cũng có thể làm giảm sự hấp thu vitamin D.

Các loại thuốc an thần, thuốc điều trị thần kinh ảnh hưởng tới sự trao đổi chất của vitamin D và hấp thụ canxi. Điều này cũng xảy ra tương tự với các loại thuốc chống nhiễm khuẩn.

Mặt khác, các loại thuốc làm hạ cholesterol, giảm cao huyết áp, lợi tiểu làm tăng tác dụng của vitamin D.

(Theo Nguyễn Liên // Tienphong Online // Webmd)

3 thời điểm không nên ăn trứng gà

Trứng gà là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, giúp bồi bổ sức khoẻ, tăng chiều cao và trí thông minh, giúp da đẹp mịn màng. Tuy nhiên, không phải lúc nào ăn trứng gà cũng có lợi như vậy, nhất là đối với người đang mắc một số bệnh. Các chuyên gia sức khỏe khuyên không nên bồi bổ bằng trứng gà khi đang bị sốt, bởi nó sẽ làm cho cơn sốt kéo dài thêm…

Bạn không nên ăn trứng gà trong 3 trường hợp sau:

Khi bị sốt

Trong trứng gà có rất nhiều protein, sau khi ăn sẽ tạo ra một nhiệt lượng lớn. Những người bị sốt, nhất là trẻ em, ăn trứng gà lúc này thì nhiệt lượng trong cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và lâu khỏi.

Vì vậy, khi bị sốt, nên hạn chế ăn trứng gà và những thực phẩm giàu đạm, thay vào là uống nhiều nước, ăn rau quả tươi.

Khi bị tiêu chảy

Rất nhiều người nghĩ rằng bệnh nhân tiêu chảy do mất nhiều chất dinh dưỡng nên cần được bồi dưỡng bằng những thứ thật bổ như trứng gà. Thực ra, ở các bệnh nhân này, dịch tiêu hoá tiết ra ít hơn, tính năng men tiêu hoá bị giảm nên khả năng chuyển hoá đường, đạm, mỡ không được như trước. Chức năng tái hấp thụ nước và chất dinh dưỡng ở ruột non cũng gặp trở ngại, phần lớn bị thải ra ngoài qua đường tiêu hoá.

Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy bệnh nhân không nên ăn trứng gà và để cho đường ruột được nghỉ ngơi.

Bị sỏi mật

Các bác sĩ khuyên rằng bệnh nhân sỏi mật không nên ăn trứng gà, ăn vào sẽ phát bệnh. Do chức năng co bóp của túi mật trở nên yếu dần nên nếu ăn nhiều thực phẩm giàu protein như trứng, đường ruột sẽ tiết nhiều chất làm co bóp túi mật, sinh ra các triệu trứng như đau, nôn mửa… và nhiều hậu quả nặng hơn.

Tuy nhiên, không phải vì thế mà bệnh nhân sỏi mật phải kiêng hẳn trứng gà. Họ vẫn có thể ăn một chút ít để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng, vừa đủ để không gây đau.

Nguồn: Nội trợ

Vệ sinh kém có thể gây ảnh hưởng đến chiều cao và IQ của trẻ


Phụ huynh cần hướng dẫn trẻ vệ sinh sạch sẽ đề phòng bệnh
Bệnh tả, tiêu chảy, thương hàn, viêm phổi khi nhỏ… có thể gây giảm sút chỉ số IQ, cao không đúng tiềm năng… Kết quả nghiên cứu này khiến cho nhiều phụ huynh không khỏi băn khoăn khi vấn đề vệ sinh học đường hiện nay vẫn còn nan giải.
Nhà vệ sinh (NVS) bẩn làm hạn chế sự phát triển của trẻ

Lâu nay chúng ta vẫn nghĩ những bệnh đường ruột như tiêu chảy, tả, lị, thương hàn… chỉ ảnh hưởng đến tiêu hóa và dinh dưỡng của trẻ, nhưng những kết quả nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng trẻ bị mắc bệnh còn chịu ảnh hưởng nặng nề về chiều cao và trí thông minh.

Theo Bác sĩ Lê Văn Nhân, Phó Giám Đốc Trung Tâm Y tế Dự Phòng TP Hồ Chí Minh, trẻ bị nhiễm trùng đường ruột (bị tiêu chảy, tả, thương hàn) trong 2 năm đầu đời thường bị giảm khả năng nhận thức, sụt giảm mất 10 điểm IQ và 3,6cm chiều cao so với những trẻ không mắc bệnh. Nếu trẻ mắc giun sán trong thời gian đó, chiều cao sút giảm thêm 4,6cm nữa, tổng cộng có thể sút giảm tới 8,2cm chiều cao nếu vừa bị tiêu chảy vừa có giun sán trong người.

Nguy cơ mắc bệnh xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên vi khuẩn từ NVS trường học được cho là một trong những mối đe dọa trực tiếp nhất.

Bác sĩ Nhân cho biết: “NVS là môi trường sống của hơn 200 loại vi khuẩn gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm về đường tiêu hóa như tiêu chảy, tả, lị, thương hàn, các bệnh dịch như tay-chân-miệng hoặc nghiêm trọng hơn là bệnh viêm não gây ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh của trẻ” .
Cải thiện vệ sinh học đường, việc cần làm ngay

Giữ gìn NVS thoáng sạch là ưu tiên hàng đầu để phòng chống bệnh dịch. Tuy nhiên, theo cuộc điều tra gần đây của Bộ GD & ĐT về tình trạng vệ sinh tại các trường, chỉ có 73% trường được điều tra có NVS và chỉ 11,7% trong số này có nhà tiêu đạt chuẩn. Điều này đồng nghĩa là các em học sinh đang ngày ngày phải đối mặt với những nguy cơ gây bệnh tiềm tàng.

Trong điều kiện thiếu thốn cơ sở vật chất của rất nhiều trường, đặc biệt là những trường ở ngoại thành và nông thôn thì ngoài việc kết hợp nguồn lực của gia đình – nhà trường – xã hội để cải tạo và nâng cấp NVS thì việc tiến hành ngay các biện pháp dọn rửa, vệ sinh diệt khuẩn là hết sức cần thiết. Theo BS. Lê Văn Nhân, NVS trường học cần được lau chùi ít nhất 3 lần/ ngày bằng cách chất tẩy rửa chuyên dụng, có khả năng diệt khuẩn để hạn chế tối đa sự phát triển của vi khuẩn.

Ngoài ra, ngay khi ở nhà, các bậc phụ huynh cũng cần lau chùi, dọn dẹp và giữ nhà vệ sinh sạch khuẩn bằng việc tẩy rửa bằng chất tẩy chuyên dụng để đảm bảo môi trường sống an toàn tuyệt đối cho trẻ. Bên cạnh đó, nhà trường cũng nên giáo dục trẻ các thói quen tốt khi đi vệ sinh như việc dội nước sau khi đi vệ sinh, bỏ rác đúng nơi qui định, rửa tay…

Bắt đầu từ những hành động nhỏ, chúng ta đã góp phần nhiều vào việc mang lại sức khỏe và sự phát triển an toàn cho con em mình.

Nguồn: Dân trí

 

Nhiều trẻ thành phố thừa cân nhưng thiếu chiều cao


Tỷ lệ trẻ mầm non bị thừa cân và béo phì trên toàn quốc là gần 4%, tăng hơn 6 lần so với 9 năm trước, trong đó chủ yếu là trẻ thành thị, một cuộc điều tra năm cho thấy.

Đây là kết quả điều tra về tình trạng dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em năm 2009 do Bộ Y tế, Unicef và Tổng cục thống kê tiến hành.

Theo đó, cứ 100 trẻ dưới 5 tuổi thì có 6 bé ở thành thị bị thừa cân, còn ở nông thôn là 4. Tuy nhiên, điều đáng báo động là tình trạng thừa cân, béo phì ở nông thôn mới xuất hiện nhưng lại tăng nhanh chóng. Nếu như năm 2005, tỷ lệ trẻ béo phì ở đây chỉ là 2% thì 3 năm sau đã tăng gần gấp đôi.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì là do trẻ được nuôi dưỡng không đúng cách, dùng nhiều thức ăn nhanh, thời gian xem tivi quá nhiều trong khi thời gian tham gia hoạt động thể lực, vui chơi lại ít. Trẻ cũng không được thường xuyên theo dõi và tư vấn tăng trưởng.

Ngoài ra, cũng theo điều tra tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm xuống chỉ còn 18,9%. Tuy nhiên, thực tế nhiều trẻ đủ cân nhưng thiếu chiều cao. Tỷ lệ này ở thành thị cao hơn nông thôn. Cứ 10 trẻ thì ở thành thị có 3 trẻ thiếu chiều cao còn ở nông thôn là gần 2.

Ngoài ra, vẫn còn gần 20% bà mẹ có con dưới 5 tuổi bị thiếu dinh dưỡng. Trong khi tỷ lệ béo phì ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã tăng lên gần 8% (so với năm 2000 là chưa đến 5%).

Nguồn: VnExpress